• 41 & 51 Nguyễn Huệ, Phường Vĩnh Ninh, TP Huế
Cấp cứu 24/7
(0234)3837777
Đường dây nóng
0962871919

Câu hỏi thường gặp

Bệnh viện Trường ĐHYD Huế khám ngoại trú BHYT từ thứ 2 đến thứ 6 (buổi sáng từ 7h – 11h30, buổi chiều từ 13h30 – 17h) tại quầy Đón tiếp bệnh nhân BHYT; Khám ngoại trú theo yêu cầu từ thứ 2 đến sáng thứ 7, người bệnh đăng ký phiếu khám tại quầy Thu viện phí tầng 1 nhà H (trừ bệnh nhân thuộc chuyên khoa Ngoại Tiết Niệu và Ngoại Thần kinh vào sáng thứ 7).

Theo Quyết định số 3510/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, trường hợp chỉ đăng ký tham gia BHYT bao gồm cả đăng ký tham gia lần đầu, đóng tiếp BHYT, thay đổi đối tượng từ nhóm khác sang nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc tham gia theo hộ gia đình đều có thể thực hiện thủ tục đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Như vậy, người dân có thể ngồi tại nhà đăng ký mua thẻ và đóng tiền BHYT thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia mà không cần đến trực tiếp cơ quan BHXH hoặc Tổ chức dịch vụ thu.

Lưu ý, theo Điều 2 Quyết định số 3510/QĐ-BHXH quy định, tính năng đăng ký BHYT online trên Cổng dịch vụ công quốc gia chỉ áp dụng cho người tham gia BHYT thuộc diện được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHYT; người thuộc hộ cận nghèo, hộ nghèo đa chiều, hộ làm nông, lâm, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình; người tham gia BHYT hộ gia đình.

Người bệnh đi khám chữa bệnh có thể xuất trình ảnh thẻ BHYT tại app VssID  hoặc VNeID trên điện thoại thông minh hoặc sử dụng căn cước công dân có gắn chip (đã tích hợp thông tin BHYT) để đăng ký phiếu khám bệnh BHYT tại Bệnh viện Trường ĐHYD Huế.

- Trường hợp người bệnh là người lao động đến khám BHYT ngoại trú, cha hoặc mẹ đưa con (dưới 07 tuổi) đi khám, xin cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội thì đăng ký xin cấp giấy chứng nhận theo mẫu quy định (GCN-PL7) ngay tại phòng khám chuyên khoa đó. Trong trường hợp này, người lao động cần cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin của cơ quan, đơn vị đang quản lý, sử dụng lao động; thông tin hành chính của bản thân hoặc cha/ mẹ đưa con đi khám.

- Một lần khám chỉ được cấp một giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội. Trường hợp người bệnh cần nghỉ dài hơn 30 ngày thì khi hết hoặc sắp hết thời hạn nghỉ ghi trên giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đã được cấp, người bệnh phải tiến hành tái khám để bác sĩ tại phòng khám xem xét quyết định.

- Trường hợp người lao động trong cùng một thời gian được hai chuyên khoa trở lên của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau khám và cùng được cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội thì chỉ được hưởng một trong những giấy chứng nhận có thời gian nghỉ dài nhất.

- Trường hợp người lao động khám nhiều chuyên khoa trong cùng một ngày tại cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với nhiều bệnh khác nhau thì chỉ cấp một giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội và được giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bệnh có chế độ cao nhất.

- Trường hợp người bệnh điều trị bệnh lao theo Chương trình Chống lao Quốc gia thì thời gian nghỉ tối đa không quá 180 ngày cho một lần cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội.

- Trường hợp người lao động bị sẩy thai, phá thai, nạo, hút thai, thai chết lưu mà tuổi thai từ 13 tuần tuổi trở lên thì thời gian nghỉ tối đa theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội nhưng không quá 50 ngày cho một lần cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội.

- Điều kiện được thanh toán 100% chi phí KCB BHYT đúng tuyến có sự thay đổi:

Theo điểm d, đ khoản 1 Điều 14 Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định, điều kiện để người tham gia BHYT được thanh toán 100% chi phí trong KCB đúng tuyến như sau:

+ Chi phí khám chữa bệnh ngoại trú một lần thấp hơn 15% mức lương cơ sở (từ 01/7/2024 là 351.000 đồng).

+ Chi phí điều trị nội trú một lần thấp hơn 50% mức lương cơ sở (từ 01/7/2024 là 1.170.000 đồng).

+ Người bệnh tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên, có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở (tương đương 14.040.000 đồng từ ngày 01/7/2024).

Quy định thông tuyến tỉnh nội trú về khám chữa bệnh BHYT quy định cho người tham gia bảo hiểm y tế khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi cả nước.

Vì vậy, đối với người bệnh có thẻ BHYT cư trú ở bất kỳ tỉnh thành nào khi điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường ĐHYD Huế đều được quyền lợi như đúng tuyến mà không cần phải có giấy chuyển tuyến, căn cứ trên tình trạng bệnh cần nhập viện để điều trị nội trú.

Đối với người bệnh có BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, sẽ có các trường hợp:

- Thứ nhất: Trường hợp thẻ BHYT ghi rõ nơi đăng ký khám bệnh ban đầu tại Bệnh viện Trường ĐHYD Huế thì khi khám bệnh và điều trị nội trú tại Bệnh viện sẽ được hưởng đúng phạm vi quyền lợi và mức hưởng theo quy định.

- Thứ hai: Trường hợp thẻ BHYT có nơi đăng ký khám bệnh ban đầu ở bất kỳ cơ sở y tế nào trên địa bàn tỉnh TT Huế (không phải là Bệnh viện Trường ĐHYD Huế) thì theo quy định của chính sách thông tuyến, kể từ ngày 01/01/2021 người bệnh khi điều trị nội trú tại Bệnh viện sẽ được hưởng như đúng tuyến mà không cần phải có giấy chuyển tuyến, còn khi đi khám bệnh ngoại trú vẫn phải xin giấy chuyển tuyến thì mới được hưởng như quy định trước đây.

- Thứ ba: Trường hợp người bệnh có phiếu hẹn khám lại tại các phòng khám của Bệnh viện Trường thì khi đi khám bệnh sẽ được hưởng đúng phạm vi quyền lợi và mức hưởng BHYT theo quy định.

Hoạt chất của thuốc Levothyrox là Levothyroxin. Levothyroxin bài tiết vào sữa mẹ trong thời gian cho con bú nhưng với liều điều trị khuyến cáo, nồng độ đạt được không đủ để gây tiến triển cường giáp hay ức chế tiết TSH ở trẻ sơ sinh, vì vậy thuốc không gây tác dụng có hại đến trẻ nhỏ. Tuy nhiên, cần thận trọng khi dùng thuốc cho phụ nữ cho con bú.

Các thuốc xịt, hít trong điều trị Hen thường là corticoid dạng hít; thuốc giãn phế quản… Bên cạnh hiệu quả điều trị đem lại thì bất kể một thuốc nào cũng sẽ có những tác dụng phụ không mong muốn. Vì thuốc corticoid đường hít dùng để điều trị hen phế quản (Seretide, Symbicort,…) có thể gây nấm miệng nên người bệnh cần nhớ súc miệng (với nước) sau mỗi lần sử dụng để ngăn ngừa nguy cơ mắc nấm miệng.

Tăng huyết áp là bệnh mạn tính, vì vậy, cần sử dụng thuốc đều đặn theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để duy trì trị số huyết áp trong khoảng cho phép. Vì vậy, bệnh nhân cần thông báo với bác sĩ về thuốc đang sử dụng để có sự điều chỉnh kê đơn cho phù hợp. Trong trường hợp, bệnh nhân muốn uống thêm loại thuốc hỗ trợ nào khác thì cần xin tư vấn của bác sĩ điều trị.

Một số thuốc không nên nghiền hay bẻ khi dùng vì có thể ảnh hưởng tới quá trình hấp thu hoặc nồng độ thuốc trong máu. Vì vậy, khi muốn nghiền hay bẻ viên, cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất (toa thuốc) hoặc hỏi ý kiến của Bác sĩ/Dược sĩ.

Mỗi liều thuốc Symbicort Turbuhaler khi sử dụng là rất nhỏ (160mcg Budesonide + 4,5mcg Formoterol), ngoài ra thuốc hoàn toàn không chứa chất dẫn, chất bảo quản nên không có bất kì mùi vị khó chịu nào, đồng thời với lực hít chủ động (hít mạnh và sâu) thì thuốc được đưa trực tiếp vào phổi chứ không bị bắn thẳng vào hầu họng. Vì vậy bệnh nhân sẽ ít cảm nhận được vị thuốc khi hít.

Thông thường thì thai nhi hình thành và quan sát được khi mà bác sỹ siêu âm bắt đầu từ tuần thứ 6 hoặc thừ 7 của thai kỳ. Khi ở tuần thai thứ 11 đã có thể thấy tim đập nhẹ rồi và bắt đầu tuần thứ 12 trở đi thì tim thai đã đập rõ ràng hơn.

Bình thường tim thai sẽ đập từ 120 – 160 lần/ phút. Tuy nhiên để đo tim thai bác sỹ phải đo nhiều lần hoặc đo khi mẹ đã được nghỉ ngơi tương đối yên tĩnh, có một thời gian nhất định thì sẽ cho được kết quả chính xác về nhịp tim của thai nhi.

Căn cứ trên nhịp tim của thai nhi cũng có thể đánh giá được sức khỏe của em bé, tiên lượng được khả năng phát triển của thai nhi.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong 35 năm qua không tìm ra bằng chứng cho thấy siêu âm gây hại cho thai nhi. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mẹ bầu có thể siêu âm tùy hứng.

Bởi vì siêu âm là một dạng năng lượng đặc biệt và có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Điều này có thể đặc biệt đúng trong ba tháng đầu, khi con yêu dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

Sàng lọc trước sinh có thể tiến hành thông qua từng giai đoạn của thai kỳ. Trong đó sớm nhất là sàng lọc quý 1. Chuyên gia khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai dù nằm trong nhóm nào: ít nguy cơ hay có nguy cơ cao đều nên thực hiện các xét nghiệm sàng lọc trong quý 1 của thai kỳ. Quý đầu tiên của thai kỳ chính là thời điểm tốt nhất để phát hiện sớm các nguy cơ. Việc tiến hành xét nghiệm sàng lọc sớm mang lại khả năng đánh giá nguy cơ ngay từ 3 tháng đầu tiên. Điều này đồng nghĩa với việc có nhiều thời gian hơn để lựa chọn cách chăm sóc, điều trị, can thiệp kịp thời. 

Xét nghiệm sàng lọc quý 1 được tiến hành nhằm đánh giá nguy cơ rối loạn 3 nhiễm sắc thể (NST) số 13, 18, 21 liên quan tới hội chứng Down, Edwards, Patau. Tuy nhiên đây chỉ là sàng lọc nguy cơ chứ không kết luận xác định thai nhi mắc hay không. 

Thường ở giai đoạn này sẽ kết hợp giữa phương pháp siêu âm và xét nghiệm NIPT hoặc Double test. Siêu âm được thực hiện với mục đích đo các chỉ số độ mờ da gáy và chiều dài mũi để đánh giá nguy cơ mắc hội chứng Down. Bên cạnh đó thực hiện NIPT để phát hiện bất thường về số lượng nhiễm sắc thể ở thai nhi. 

  • Nên uống nhiều nước và nhịn tiểu trước khi siêu âm để giúp việc siêu âm trở lên dễ dàng, hình ảnh rõ nét hơn.
  • Nên mặc quần thoải mái, quần áo rộng rãi khi khám.
  • Có thể ăn nhẹ trước khi siêu âm thai.

Hiện nay chưa có bằng chứng thẻ hiện việc siêu âm có ảnh hưởng tới thai nhi. Siêu âm sử dụng các sóng âm để tái tạo hình ảnh. Việc này khác với cơ chế tạo hình của tia X-Quang.

Theo luật của Nhà nước Việt Nam, việc tiết lộ giới tính thai nhi bị cấm hoàn toàn trong quá trình siêu âm. Vì thế các bác sĩ sản phụ khoa có quyền từ chối việc tiết lộ giới tính thai nhi.

Tùy từng bất thường của thai nhi, có bệnh lý dễ phát hiện, có bệnh lý tùy thuộc mức độ biểu hiện, tiến triển, thay đổi, khó phát hiện thậm chí là không thể phát hiện trên siêu âm.

  • Một số bất thường như bất thường tim thai hay tình trạng tắc ruột… thường chỉ có thể phát hiện ở giai đoạn muộn của thai kì.
  • Siêu âm tầm soát dị tật thai nhi tuy có thể loại trừ phần lớn các dị tật kể trên nhưng không thể loại trừ tất cả các bất thường của thai.
  • Những bệnh lý như tự kỷ, bại não, chậm phát triển trí tuệ không thể phát hiện được trên siêu âm vì những bệnh lý này không do bất thường cấu trúc mang lại.

Siêu âm có thể thực hiện ở bất kì thời điểm nào trong thai kì. Theo các bác sĩ sản khoa, trong suốt thai kỳ, mẹ bầu cần thực hiện ít nhất 3 lần siêu âm để đảm bảo sức khỏe của mẹ và bé. Có 3 mốc thời điểm siêu âm trong thai kì mà các chuyên gia khuyến cáo thật sự cần thiết:

  • Tuần thứ 12- 14 của thai kỳ để sàng lọc quý I trong thai kỳ
  • Tuần 18 đến tuần 22 của thai kỳ để sàng lọc quý II trong thai kỳ
  • Tuần 30 đến tuần 32 của thai kỳ để sàng lọc quý III trong thai kỳ

Có 2 phương pháp siêu âm thai nhi chính:

  • Siêu âm trên bụng:
    • Phương pháp này được thực hiện bằng cách đặt đầu dò siêu âm và di chuyển đầu dò trên vùng bụng của người mẹ. Bằng việc bôi một lớp gel mỏng lên da bụng, đầu dò siêu âm sẽ di chuyển dễ dàng hơn, và cho hình ảnh được rõ nét hơn.
  • Siêu âm qua âm đạo:
    • Phương pháp này được thực hiện bằng cách đưa một đầu dò siêu âm qua âm đạo để tiến hành siêu âm, vì thế phương pháp này còn có tên là siêu âm đầu dò âm đạo.

Bên cạnh đó nhiều phòng khám phụ sản còn có các dịch vụ siêu âm 3D và 4D:

  • Siêu âm 3D:
    • Siêu âm 3D hay siêu âm ba chiều hoạt động bằng cách tổng hợp các hình ảnh 2D thành 3D ba chiều có màu, sắc nét hơn và giống như thật hơn.
  • Siêu âm 4D:
    • Siêu âm 4D hay siêu âm bốn chiều về cơ bản là giống siêu âm 3D nhưng khác biệt ở chỗ có thể cung cấp video chuyển động của thai nhi tại thời gian tiến hành siêu âm.